Cần có cơ chế khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý 4 tỉnh miền Trung

Lầu đầu tiên các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và TP.Đà Nẵng có một bộ cơ sở dữ liệu thông tin địa lý, mô hình số độ cao và bản đồ địa hình số ở tỷ lệ 1/10.000 phủ trùm và tỷ lệ 1/2000, 1/5000 ở khu vực Lăng Cô, TP.Đà Nẵng, khu kinh tế trọng điểm tỉnh Quảng Nam. Đây là công cụ đắc lực phục vụ công tác quản lý điều hành quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của 4 tỉnh miền Trung. Mới đây, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam đã tiến hành bàn giao cho UBND và Sở TN&MT của 4 tỉnh. Nhân dịp này, phóng viên báo TN&MT đã trao đổi với ông Nguyễn Tuấn Hùng, Cục trưởng Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam xung quanh vấn đề này.
 
Xin ông cho biết đôi nét về bộ sản phẩm này và tầm quan trọng của cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý và bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 4 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và TP.Đà Nẵng?
Dự án “Thành lập CSDL nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/10.000 gắn với mô hình số độ cao phủ trùm cả nước” và “Thành lập CSDL nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/2.000, 1/5.000 các khu vực đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm” được triển khai từ năm 2008 theo Quyết định số: 1867/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/12/2007. Sau hơn 3 năm thi công, dự án đã hoàn thành CSDL nền  thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/10.000 của hầu hết các tỉnh trong cả nước trong đó có 4 tỉnh được bàn giao hôm nay với 545 mảnh, tỉnh Quảng Trị là 136 mảnh, Thừa Thiên Huế 116 mảnh, Quảng Nam 258 mảnh và TP.Đà Nẵng là 35 mảnh. Dự án thành lập cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý ở tỷ lệ 1/2000, 1/5000 cho các khu đô thị, các khu kinh tế trọng điểm cũng đã hoàn thành 597 mảnh bản đồ tỷ 1/2000 và 42 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/5000 của tỉnh Thừa Thiên Huế, 202 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 của TP.Đà Nẵng và 10 mảnh tỷ lệ 1/5000 của TP.Đã Nẵng, 492 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/2000 của tỉnh Quảng Nam. Mỗi mảnh bản đồ dạng số đều có 7 lớp thông tin dữ liệu về cơ sở toán học, dân cư, giao thông, địa hình, thủy hệ, ranh giới và thực vật.
Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) quốc gia và GIS chuyên ngành hiện là xu hướng mà tất cả các nước đều đang hướng tới để phục vụ cho việc triển khai chính phủ đện tử, giúp cho các nhà quản lý trong việc ra quyết định đúng đắn về quy hoạch, phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng. Hệ thống thông tin địa lý GIS bảo đảm đủ năng lực phục vụ mọi nhu cầu quản lý Nhà nước, đáp ứng các hoạt động kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, thoả mãn điều kiện hội nhập quốc tế và phải được xây dựng trên một nền thông tin địa lý thống nhất theo chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia và phù hợp với chuẩn thông tin địa lý quốc tế. CSDL nền thông tin địa lý được xây dựng trong 2 dự án này phủ trùm cả nước trong đó có 4 tỉnh đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên bảo đảm làm cơ sở dữ liệu nền chung cho tất cả các ngành. 
Vậy điểm khác biệt chính giữa các sản phẩm được bàn giao cho 4 tỉnh miền Trung với các tài liệu bản đồ trước đây là như thế nào, thưa Cục trưởng?
- Cơ sở dữ liệu nền thông tin địa lý là một dạng tài liệu đặc biệt. Khác với bản đồ bằng giấy truyền thống, CSDL nền thông tin địa lý (trong đó có bản đồ số) đã thể hiện bức tranh về tự nhiên, dân cư, cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông đường bộ, mạng lưới đường bộ, mạng lưới sông, suối… tương đối chi tiết. Đặc biệt là, thông qua bộ sản phẩm này, chúng ta có thể truy cập được nhiều thông thuộc tính, trình bày hiển thị và chiết xuất theo phạm vi địa giới hành chính đến cấp xã, trong đó người dùng có thể lựa chọn theo từng đối tượng, chủ đề hoặc nhiều đối tượng trên phạm vi mà mình quan tâm cùng một lúc mà trên bản đồ giấy trước đây không có. Một trong những ưu điểm của hệ thống thông tin địa lý là được sử dụng khai thác thông qua việc chồng xếp các lớp đối tượng đồng thời có thể được cập nhật nhanh và dễ dàng hơn so với các sản phẩm bản đồ trước đây. Đây là cơ sở dữ liệu nền cơ bản nên các chuyên ngành, lĩnh vực như giao thông, thuỷ lợi, nông nghiệp, môi trường… có thể sử dụng làm cơ sở để xây dựng cơ sở dữ liệu riêng phục vụ cho chuyên ngành.
Điểm khác biệt chính giữa cơ sở dữ liệu thông tin địa lý được thực hiện từ hai dự án này của Chính phủ với các tài liệu trước đây là toàn bộ dữ liệu được xây dựng theo bộ chuẩn thông tin địa lý thống nhất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành.Điều này đảm bảo tính nhất quán về nội dung và chất lượng dữ liệu nền để phục vụ cho các ứng dụng của các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước, hướng tới việc triển khai thành lập“Cơ sở hạ tầng không gian quốc gia Việt Nam - VNSDI”, có vai trò rất quan trọng trong điều kiện hiện nay nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO.
Điều đó có nghĩa là nếu chúng ta biết tận dụng những ưu việt của bộ sản phẩm này, biết đầu tư và khai thác theo đúng quy trình sẽ đem lại hiệu quả lớn trong việc hoạch định chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, thưa Cục trưởng?
- Đúng thế. Điều quan trọng hiện nay là các địa phương được bàn giao phải tiến hành phổ biến, quảng bá sản phẩm rộng rãi đến các sở, ngành để cùng khai thác, chia sẻ và cập nhật thông tin. Vấn đề này rất cần và phụ thuộc vào sự quan tâm và nguồn kinh phí đầu tư của UBND các tỉnh tỉnh. Theo tôi, để phát huy hết tác dụng của sản phẩm, ngay từ bây giờ UBND các tỉnh cần quan tâm đầu tư trang thiết bị và nguồn nhân lực phục vụ cho việc khai thác.
Với vai trò là cơ quan quản lý Nhà nước về Đo đạc và Bản đồ, thời gian tới Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam sẽ tiếp tục triển khai những công việc gì để hỗ trợ 4 tỉnh miền Trung nói riêng và các tỉnh, thành phố được bàn giao nói chung khai thác có hiệu quả bộ sản phẩm này?
Công tác cập nhật thông tin trên CSDL nền thông tin địa lý là công việc hết sức quan trọng. Khác với bản đồ truyền thống trước đây nếu muốn cập nhật phải tiến hành đo vẽ lại toàn bộ, CSDL nền thông tin địa lý có ưu việt hơn là có thể cập nhật thường xuyên các biến động. Đặc biệt là nếu như làm tốt công tác quản lý, các ngành phối hợp chặt chẽ với nhau thì chúng ta thậm chí có thể cập nhật thường xuyên hàng ngày khi có sự thay đổi. Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam sẽ tiếp tục xây dựng quy trình công nghệ quy định về vấn đề cập nhật và cơ chế trao đổi dữ liệu giữa địa phương với trung ương và xây dựng dự án cập nhật cơ sở dữ liệu nên thông tin địa lý đê bảo đảm để cơ sở dữ liệu luôn mới và sống động.
Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam cũng sẽ chuẩn bị lực lượng kỹ thuật có trình độ để hướng dẫn đào tạo cho cán bộ của các tỉnh có năng lực khai thác sử dụng và cập nhật CSDL nền thông tin địa lý. Trước mắt, nếu địa phương có nhu cầu tập huấn cho cán bộ về kỹ năng sử dụng và khai thác phần mềm của bộ sản phẩm này thì có thể gửi công văn, Cục Đo đạc và Bản dồ Việt Nam sẵn sàng cử cán bộ tập huấn, hướng dẫn chi tiết. Trong quá trình triển khai thực hiện có vướng mắc gì thì có thể liên hệ với Cục, cán bộ kỹ thuật sẽ giải đáp thắc mắc kịp thời.
Khi làm được những điều ấy, tôi tin rằng, CSDL nền thông tin địa lý phát huy hiệu quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng của địa phương.
Xin trân trọng cám ơn Cục trưởng!
BTN&MT - Thúy Hằng

 

Additional information